Cảm xúc về mối quan hệ đặc biệt, thủy chung Việt - Lào
![]() |
|
Đoàn đại biểu Hội Hữu nghị Việt Nam - Lào tỉnh Bắc Giang thăm Thạp Luổng ở Thủ đô Viêng Chăn. |
Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào được Thủ tướng Phạm Văn Đồng thay mặt nhà nước Việt Nam và Thủ tướng Cay- Xỏn-Phôm-Vi-Hản thay mặt nhà nước Lào ký tại Thủ đô Viêng Chăn. Hiệp ước gồm lời nói đầu và bảy điều khoản được ghi bằng văn bản pháp lý với hai tiếng Việt - Lào.
Ngay lời nói đầu, bản Hiệp ước nêu rõ quan điểm, nhận thức sâu sắc của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân hai nước về mối quan hệ đặc biệt, hiếm có và thủy chung giữa Việt Nam, Lào. Hai chữ đồng chí giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào là tình đồng chí vĩ đại; tình anh em ruột thịt cách mạng đã được tôi luyện trong mấy chục năm đồng cam cộng khổ, cùng chiến đấu, cùng chiến thắng kẻ thù xâm lược.
![]() Trong lịch sử cách mạng thế giới đã có nhiều tấm gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài và toàn diện như quan hệ Lào - Việt". Nguyên Tổng Bí thư Đảng NDCM Lào, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước CHDCND Lào Cay-Xỏn-Phôm-Vi-Hản. |
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, gìn giữ truyền thống đoàn kết quý báu của hai dân tộc, các thế hệ lãnh đạo, cán bộ, đảng viên và đặc biệt là thế hệ trẻ hai nước đã, đang và tiếp tục vun đắp tình đoàn kết hữu nghị, hợp tác đúng với cam kết trong Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào. Nhìn lại lịch sử, ngày 13-3-1963, trong lễ tiễn nhà vua và đoàn đại biểu Lào về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc mấy vần thơ ca ngợi tình cảm, mối quan hệ hai nước Việt- Lào: "Thương nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua/ Việt - Lào hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà - Cửu Long".
Ngày 3-7-1963, khi ấy tôi 19 tuổi, học hết lớp 7/10. Cũng đúng ngày ấy, tôi đã làm đơn tình nguyện vào bộ đội, trở thành anh lính tình nguyện. Trải qua rất nhiều trận đánh, chiến dịch và ở nơi nào, trận đánh nào cũng ghi đậm dấu ấn trong tôi về sự chiến đấu quả cảm của đồng đội cũng như tình cảm nhân dân Lào dành cho quân tình nguyện Việt Nam. Kỷ niệm đáng nhớ nhất là trận đánh trong Chiến dịch 74 (chiến dịch Đường 7 năm 1964 ) ở Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng. Do có vị trí chiến lược quan trọng nên Cánh đồng Chum được kẻ thù xây dựng thành căn cứ quân sự lớn nhất của chúng ở Lào với mục tiêu là chống lại lực lượng cách mạng Lào, ngăn chặn sự tiến công của lực lượng cách mạng từ phía Bắc xuống Viên Chăn, từ thượng Lào phát triển sang miền Bắc Việt Nam.
Trước sinh nhật Bác một ngày, đơn vị tham gia trận chiến ở Phu Bạ. Trận đánh diễn ra lúc 15 giờ ngày 18-5-1964, khi đó tôi là chiến sĩ liên lạc. Trung đội có ba tiểu đội phải chống cự với cả một đội quân gồm binh đoàn xe tăng độc nhất và hai tiểu đoàn bộ binh cùng các đơn vị hoả lực khác của địch. Địa hình núi rừng phức tạp, hoả lực chống được xe tăng, thiết giáp địch của đơn vị chỉ có khẩu B40. Lúc đó đồng chí xạ thủ B40 lại bị thương không thể đảm nhận nhiệm vụ. Tôi xung phong nhận súng, một mình lao thẳng từ đồi cao nơi đơn vị phòng ngự xuống đường quần nhau với hàng chục xe tăng, thiết giáp địch. Vì chưa biết sử dụng B40, có một quả lắp sẵn trong súng, tôi bóp cò nhằm vào chiếc xe bọc thép, đạn chui xuống gầm xe làm 7 tên địch nhảy khỏi xe trú ẩn dưới một hố bom gần đó. Được đồng đội lắp cho một quả đạn khác, tôi tiếp tục băng xuống đường với quyết tâm phải diệt cho được xe tăng địch.
Sau khi dùng lựu đạn tiêu diệt 7 tên địch dưới hố bom, thấy hai xe tăng địch kéo nhau đang chạy trên đường độc đạo giữa Khăng Khay - Mường Khừng, tôi vượt qua xe sau tiến sát xe trước rồi nổ súng, quả đạn lao thẳng vào chiếc xe tăng đồ sộ chỉ cách khoảng 10 m. Hơi lửa của quả đạn khi chạm vào xe phả ra bỏng rát. Chiếc xe tăng bốc cháy làm tên Chỉ huy trưởng binh đoàn trong xe tử trận, cả đoàn xe và lính hỗn loạn. Trận đánh khép lại một chiến dịch và chúng tôi đã dâng quà mừng sinh nhật Bác Hồ bằng một chiến công trên đất bạn.
Chiến công như vậy còn gian khổ cũng không ít. Có lần hành quân đuổi giặc trong rừng sâu không mang theo được lương thực, chúng tôi phải dùng nấm tai mèo tươi (mộc nhĩ) nấu với nước suối để ăn. Rất may sau 7 ngày như thế, chúng tôi gặp một tốp chị em người Lào Thâng bên một vạt nương, một chị đưa gói cơm nương, chúng tôi chia nhau mỗi người mấy hạt. Ấy vậy mà ai nấy đều thấy ấm lòng, phấn khởi, hăng hái hẳn lên. Từ những kỷ niệm như thế, chúng tôi càng cảm nhận rõ ràng sự tin yêu, đùm bọc của nhân dân các bộ tộc Lào.
Sinh ra trên đất mẹ Việt Nam, trưởng thành trên đất Lào, tôi hạnh phúc vì có hai tên, một tên Việt Nam và một tên Lào. Mới đây cùng đoàn đại biểu Hội Hữu nghị Việt Nam - Lào tỉnh Bắc Giang đến thăm địa danh Phu Bạ nơi cách đây 43 năm tôi và đồng đội đã chiến đấu, lập công - mảnh đất đã để lại trong tôi tình yêu thương gắn bó, mảnh đất mà tôi không bao giờ quên. Mối tình hữu nghị Việt Nam-Lào do lớp lớp thế hệ lãnh đạo, nhân dân và các lực lượng vũ trang hai nước dày công vun đắp đã, đang và sẽ tiếp tục được phát huy, không ngừng đơm hoa kết trái. Tình hữu nghị Việt-Lào, đất nước, con người với sắc hương Chăm pa tươi đẹp mãi mãi trong trái tim tôi.
Trần Ngọc Phương
(Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Lào tỉnh Bắc Giang)
Bắc Ninh

















Ý kiến bạn đọc (0)