Dấu thơm muôn thuở còn truyền
![]() |
|
Bắc Giang - thành phố bên dòng Thương. Ảnh: Anh Tuấn. |
Ông bạn già của tôi là thầy giáo về hưu yêu thơ lại rất mê môn Lịch sử hay đi thăm thú các vùng đất trong tỉnh. Với chiếc xe máy cũ kỹ nhưng chắc chắn, ông già bảy mươi ba tuổi hết xuôi đồng bằng lại ngược lên núi rừng. Cũng may, ông là người trời cho sức khỏe hơn người và có tiềm lực kinh tế nhờ những đứa con trưởng thành.
- Ông có khám phá điều bí mật gì không qua các chuyến đi? - Tôi hỏi.
- Không bí mật nhưng rất thú vị. Tất cả đều trong lòng đất. Bắc Giang chúng ta có được như hôm nay đều nhờ cội nguồn, mạch nguồn. Mỗi vùng đất đều có lịch sử của nó, và phải được lý giải.
Bỗng ông cao giọng ngân nga: Tôi đã đi khắp mảnh đất nơi đây/ Ngàn ngàn năm nguồn mạch vẫn đầy/ Quê hương đấy, muốn cất cao tiếng gọi/ Từ đất đai, sông núi, cỏ cây...- Ông gật gù, đắc ý - Tôi cảm nhận rất sâu sắc mấy câu của danh nhân Lý Tử Tấn thời xưa trong “Xương Giang phú”:
Trời đất khéo đặt
Non sông vốn thiêng
Nơi đây vũ công lừng lẫy
Giúp nên đất nước bình yên.
và
Ấy Xương Giang, một sông hình thắng
Mà dấu thơm muôn thuở còn truyền.
Tôi ngạc nhiên, không phải vì ông đột nhiên làm thơ, lại có cách nói véo von văn chương mà vì suy nghĩ của một người tưởng như chỉ biết ngao du hiếu kỳ lại sâu sắc đến vậy.
Phải, Bắc Giang là vùng đất cổ. Với những di vật tìm thấy, Bắc Giang đã có con người cổ đại sinh sống cách đây khoảng vài vạn năm. Là một bộ nằm trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang. Dù tên gọi riêng rẽ Bắc Giang mới chỉ có 122 năm tính đến nay vì trước đó thuộc tỉnh Bắc Ninh (thời Nguyễn, thế kỷ XIX), trấn Kinh Bắc (thời Lê, thế kỷ XV - XVIII), lộ Bắc Giang (thời Lý - Trần, thế kỷ X - XIV) nhưng đã có một nền văn hóa sớm. Theo thời gian, văn hóa tỉnh nhà đã giao thoa giữa văn hóa chính thống với văn hóa dân gian, giữa văn hóa Thăng Long với văn hóa Lạng Sơn. Âu cũng vì Bắc Giang là nơi chín người mười làng. Vùng đất đây - thời xa xưa, từ trăm năm về trước, là xứ sở núi rừng âm u, hoang vắng, dân cư thưa thớt - ngoài dân bản địa lại là dân định cư của người phương Bắc tràn xuống, từ miền Trung, đồng bằng sông Hồng ngược lên. Thời chế độ phong kiến đã có câu lưu truyền: “Tiểu loạn cư Thăng Long, đại loạn cư Yên Thế”. Nếu loạn nhỏ thì cứ ở kinh đô Thăng Long còn loạn lớn hãy về Yên Thế. Yên Thế xưa gồm cả Tân Yên và Yên Thế ngày nay. Bởi địa dư Bắc Giang thuở đó mới có câu ca ai oán:
Sông Thương nước chảy đôi dòng
Chia ly đôi ngả cho lòng quặn đau
Sông Thương là ranh giới giữa đồng bằng với vùng núi. Tại đây đã có bao cuộc tiễn biệt đẫm nước mắt của kẻ đi người ở - những lính lên trấn thủ vùng biên ải, những viên quan đi sứ, những người vì lẽ này lẽ nọ phải rời xa gia đình. Con đường thiên lý từ kinh đô Thăng Long đến kinh đô Trung Hoa đều phải qua bến sông này. Bởi thế chỗ đây mới có tên gọi là bến Chia Ly, sau gọi chệch là bến Chi Ly. Nhưng Bắc Giang theo một danh nhân cách đây vài trăm năm đã nhận xét: “Là nơi có mạch núi cao vút, nhiều sông quanh vòng, là mạn trên nước ta... Mạch đất tụ vào đây nên nhiều chỗ có dấu tích đẹp. Tinh hoa hợp vào đất nên sinh ra nhiều danh nhân, tu tạo nhiều hào khí không phải nhiều nơi có được”.
Phải, Bắc Giang là nơi “dấu thơm muôn thuở còn truyền”. Người xưa nói thật chí lý, sâu sắc. Dấu thơm ấy không phải chỉ là “vũ công lừng lẫy” có từ khai thiên lập địa với truyền thuyết Thạch tướng quân oai hùng chẳng khác gì Thánh Gióng, làng Giã đại thần, Thánh Thiên công chúa, Vũ Thành bi tráng. Nơi đây còn là “vĩ đại”, “không có ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam” như nhận xét của Giáo sư Vũ Ngọc Khánh vì có những con người kiệt xuất. Đó là Thân Cảnh Phúc ở thế kỷ XI vị tổ của chiến tranh du kích. Đó là Thân Nhân Trung thế kỷ XV là nhà tư tưởng lớn, lần đầu tiên nước ta và có lẽ cả trên thế giới ở thời kỳ đó đã đề ra luận điểm đề cao giới trí thức trong xã hội khi ông khẳng định: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Đó là Thân Công Tài ngay từ đầu thế kỷ XVII đã khởi xướng phố phường đô thị với mục đích phát triển kinh tế vùng biên giới để thu hút khách buôn bán từ nước ngoài khi ông nhậm chức ở Lạng Sơn.
Chính tên vùng đất miền núi đa dân tộc này đã có nền văn hóa đặc sắc vật thể và phi vật thể với nhiều đình chùa cổ nhất Việt Nam, nhiều lễ hội phong phú, các trung tâm Phật giáo thiền phái Trúc Lâm, với nghệ thuật dân gian lâu đời như tuồng chèo, quan họ, soong hao, soọng cô, sình ca, then... Lại có những làng quê ghi dấu ấn rất riêng mà không phải nơi đâu trên đất nước ta có được, ví như làng tiến sĩ, làng cười... Ôi có phải “tinh hoa hợp vào đất nên sinh ra nhiều danh nhân, tụ tạo nhiều hào khí” như người xưa đã tiên đoán thế chăng?
Tỉnh ta ra đời theo Nghị định 983 của viên Toàn quyền Pháp năm 1895 trong tiếng súng dồn dập chiến trận của các nghĩa binh từ vùng xuôi đến vùng ngược, từ đồng bằng sông Cầu, sông Thương đến núi rừng. Đó là những cuộc khởi nghĩa của thủ lĩnh Hoàng Đình Kinh, Lưu Kỳ, Cai Vàng, Hoàng Thế Nhân, Lương Văn Nắm, Hoàng Hoa Thám... Chính viên quan thực dân đã phải thừa nhận khi buộc phải tách vùng đất Bắc Giang ra khỏi tỉnh Bắc Ninh vì “gây rất nhiều khó khăn cho công cuộc cai trị”. Cuộc khởi nghĩa vũ trang Yên Thế là cuộc đấu tranh bền bỉ nhất, lâu dài nhất, sáng chói nhất ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đây cũng là cuộc khởi nghĩa duy nhất trong cả nước thuở ấy với chiến thuật đánh và đàm của lãnh tụ Hoàng Hoa Thám, mở ra một phương thức mới trong cuộc chiến tranh vệ quốc.
Phải, ngàn ngàn năm nguồn mạch vẫn đầy, và, dòng mạch ấy tuôn chảy không ngừng. Không có gì lạ ở trên vùng đất này lòng yêu mãnh liệt, thiết tha quê hương, đất nước cứ nối tiếp từ thế hệ này đến thế hệ khác. Bài ca chiến đấu luôn cất cao, đúng như một nhà thơ đã viết:
Ta lại viết bài thơ trên báng súng
Con lớn lên sẽ viết tiếp thay cha
Người đứng dậy viết tiếp người ngã xuống
Người hôm nay viết tiếp người hôm qua
Điều ấy đã lý giải vì sao quê hương chúng ta liên tiếp xuất hiện những người con “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, những trai gái hiến dâng tuổi xuân cho độc lập, tự do, cho lý tưởng cách mạng. Đó là Nguyễn Khắc Nhu, Nguyễn Thị Bắc, Nguyễn Thị Giang, những Ninh Văn Phan, những Cao Kỳ Vân, Lưu Viết Thoảng, Chu Văn Mùi, những Nguyễn Văn Cốc, Bùi Đình Đội, những Hoàng Quang Tích...
Bắc Giang chẳng những là nơi “vũ công lừng lẫy” mà còn là vùng đất của những người cần cù, dũng cảm, sáng tạo trong dựng xây quê hương giàu đẹp. Khi tiếng súng đã im là vang dậy tiếng cuốc, tiếng cày, là rầm rập tiếng chân trên khắp nẻo đường, công trường. Công cuộc đổi mới của Đảng đã tạo lập bao cánh đồng trù phú, bao làng quê phồn thịnh, bao con đường thông thênh to đẹp, bao nhà máy, xí nghiệp mọc lên trên nhiều mảnh đất. Những thửa ruộng đồng bằng nhỏ hẹp năm xưa giờ đã thành cánh đồng mẫu lớn, là khu ruộng canh tác công nghệ cao. Máy móc ngày càng nhiều, thay thế sức người. Nông sản đã vượt qua tự cấp tự túc để trở thành hàng hoá cho thị trường trong và ngoài nước. Lục Ngạn đã là vương quốc, thủ phủ cây ăn quả miền Bắc. Gạo thơm Yên Dũng đã tràn ngập muôn nơi. Gà đồi Yên Thế đâu chỉ hiện diện ở Thủ đô mà còn có tên ở nhiều nước Đông Nam Á. Vải thiều tung tẩy khắp thị trường quốc tế. Và bánh đa Kế, bún Đa Mai. Và nấm Lạng Giang, mỳ Chũ. Và rượu Thổ Hà...
Ngày nay trên quê hương yêu dấu chúng ta đã xuất hiện bao làng mỹ tục, những làng khuyến học, khoa học; những làng mỹ nghệ, mây tre, những làng quan họ, chèo, tuồng... và, đặc biệt là làng Văn hoá. Đã có ngày càng nhiều những nhà khoa học xuất sắc, những Trần Hồng Uy, Chu Hảo, Nguyễn Văn Đỗ, Thân Đức Hiền, những văn nghệ sĩ tài năng - những Bùi Huy Phồn, Hoàng Tích Chỉ, Bành Bảo, Hoàng Cầm, Anh Thơ, Nguyên Hồng...
Tôi đứng giữa cánh đồng thẳng tắp tràn ngập màu xanh của lúa, rau và cả hoa trong tốp người gần xa. Tiếng cười nói râm ran... Trời cao vòi vọi với những đám mây dát bạc. Gió vi vút trên không. Tôi đứng ngẩn ngơ mà ngắm mãi. Tưởng như trong mơ. Tưởng như đứng trước bức tranh liên hoàn sắc màu. Bất giác tôi như muốn reo lên với những câu thơ của một nhà thơ cách mạng danh tiếng:
Này các chị các anh trên đường có thấy
Nước non mình đâu cũng đẹp như tranh
Gương mặt người ai cũng sáng long lanh
Những đôi mắt trong lành vui ấm lạ
Phải không vậy? Trong tay ta tất cả
Bỗng đua nhau sống dậy khắp nghìn lần.
Dẫu con đường chúng ta đang đi còn gặp muôn vàn khó khăn, những rào cản, thách thức nhưng con đường hội nhập đã rộng mở. Không vinh quang, không tươi đẹp nào lại đến dễ dàng. Con tàu khi đã ra biển lớn tất phải qua bão tố. Chính truyền thống yêu quê hương, đất nước, truyền thống chung sức chung lòng, giữ gìn bản sắc dân tộc; truyền thống lao động cần cù, nhẫn nại, quả cảm, sáng tạo của người dân quê ta là cội nguồn, là mạch nguồn không bao giờ lung lay, vơi cạn. Ôi, dấu thơm muôn thuở còn truyền, ôi ngàn ngàn năm nguồn mạch vẫn đầy. Nó đã làm nên sức sống mãnh liệt quê hương, rạng rỡ quê hương, góp phần tạo dựng cho Tổ quốc Việt Nam ngời sáng, một dáng đứng Việt Nam trên quả địa cầu.
Tùy bút của Đỗ Nhật Minh
Bắc Ninh

















Ý kiến bạn đọc (0)