Khung pháp luật mới về phí và lệ phí
![]() |
|
Nộp phí giao thông đường bộ. |
Luật Phí và lệ phí tiếp tục giữ lại những quy định còn phù hợp của Pháp lệnh, đồng thời bổ sung nhiều điểm mới nhằm thiết lập khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ về quản lý phí, lệ phí, bảo đảm thống nhất, phù hợp với quy định tại Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi) và các văn bản pháp luật có liên quan; phản ánh kịp thời, đầy đủ nguồn thu từ phí, lệ phí, khắc phục hạn chế trong quản lý nguồn thu; đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ công phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần thúc đẩy cải cách hành chính trong các ngành, lĩnh vực cung cấp dịch vụ có thu phí, lệ phí.
Lâu nay, nhiều người chưa phân biệt rạch ròi, thậm chí nhầm lẫn giữa phí với lệ phí. Để khắc phục tình trạng này, Luật Phí và lệ phí đã có khái niệm cụ thể. Theo đó, phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cung cấp dịch vụ công. Ví dụ: Phí kiểm dịch, phí thẩm định đầu tư, phí sử dụng đường bộ, các loại án phí (hình sự, dân sự, kinh tế…). Lệ phí là khoản tiền đã ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước. Ví dụ: Lệ phí hộ tịch, lệ phí cấp hộ chiếu, lệ phí trước bạ…
Lệ phí chủ yếu nhằm đáp ứng yêu cầu về quản lý nhà nước, bảo đảm quyền lợi về mặt hành chính pháp lý cho người nộp, không dùng để bù đắp chi phí. Với khái niệm này, đối tượng áp dụng của Luật bao gồm các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức, cá nhân liên quan đến thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí. Trên cơ sở đó, Luật xác định cụ thể về phạm vi điều chỉnh gồm: Danh mục phí, lệ phí; người nộp phí, lệ phí; tổ chức thu phí, lệ phí; nguyên tắc xác định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng phí, lệ phí; thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức trong quản lý phí, lệ phí.
![]() |
|
Mức thu phí giao thông đường bộ đối với từng loại hình. |
Việc xác định mức thu, miễn, giảm phí, lệ phí thực hiện theo các nguyên tắc quy định trong Luật. Tại Điều 8 và Điều 9, mức thu phí được xác định cơ bản bảo đảm bù đắp chi phí, có tính đến chính sách phát triển KT-XH của đất nước trong từng thời kỳ. Mức thu phải bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân.
Về danh mục phí, lệ phí có điểm đáng chú ý là, một số khoản phí trong danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh Phí và lệ phí được chuyển sang cơ chế giá để khuyến khích xã hội hóa. Tuy nhiên, một số dịch vụ mặc dù đã chuyển sang cơ chế giá nhưng nhà nước vẫn cần quản lý giá. Cụ thể, có 17 dịch vụ chuyển từ phí sang giá dịch vụ do nhà nước định giá như phí thủy lợi, phí chợ, phí trông giữ xe, phí qua đò, phà...
Những quy định về miễn, giảm phí, lệ phí được thể hiện cụ thể. Các trường hợp thuộc diện miễn, giảm phí, lệ phí gồm: Trẻ em, hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã đặc biệt khó khăn theo quy định pháp luật và một số trường hợp đặc biệt khác. Để tăng cường phân cấp quản lý phí, lệ phí, Luật đã quy định thẩm quyền miễn, giảm phí, lệ phí. Theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể đối tượng được miễn, giảm án phí và lệ phí tòa án; Chính phủ quy định cụ thể đối tượng được miễn, giảm đối với từng loại phí, lệ phí thuộc thẩm quyền; Bộ Tài chính và HĐND cấp tỉnh quy định cụ thể đối tượng được miễn, giảm đối với từng loại phí, lệ phí được phân cấp trong danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo luật này.
Nội dung về quản lý, sử dụng phí, lệ phí đã được cụ thể hóa trong Luật và bảo đảm thống nhất với Luật Ngân sách nhà nước vừa được sửa đổi. Cụ thể, phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện phải nộp vào ngân sách nhà nước; trường hợp cơ quan nhà nước được khoán chi phí hoạt động từ nguồn thu phí thì được khấu trừ; phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện, được để lại một phần hoặc toàn bộ số tiền phí thu được để trang trải chi phí hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí; phần còn lại phải nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của Luật này (Điều 12).
Ngoài những nội dung nêu trên, Luật còn quy định cụ thể về quyền, trách nhiệm của tổ chức thu phí, lệ phí, người nộp phí, lệ phí và của các cơ quan nhà nước về quản lý phí, lệ phí tại các chương IV và V.
Kể từ ngày Luật Phí và lệ phí có hiệu lực, hai văn bản có liên quan hết hiệu lực là Pháp lệnh Phí và lệ phí số 38/2001 và Pháp lệnh Án phí, lệ phí tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12. Cùng với hai pháp lệnh này, Khoản 2, Điều 23 của Luật đã quy định về việc bãi bỏ một loạt các quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến nội dung phí và lệ phí.
Hoàng Văn Lợi
Bắc Ninh


















Ý kiến bạn đọc (0)