(BGĐT) - Làng tôi vốn là làng Việt cổ, đất quan, có người làm đến Hữu Thị Lang, được phong tước hầu. Do đó, những công trình kiến trúc trong làng đều rất chuẩn và đẹp.
|
|
Làng như phố. Ảnh: HÀ MI
|
Đình làng lớn thờ Thành hoàng, hàng chục chiếc cột gỗ lim to tầy người ôm. Bên trái là sàn gỗ lim, bên phải lát gạch hồng, nơi để bàn thờ có hai ông Hồng, ông Bạch (ngựa hồng, ngựa bạch) bằng gỗ, có bánh xe có thể di chuyển được; ở ngay hàng cột trước Thánh cung là nơi treo trống, treo chiêng. Qua sân rộng, bên trái, bên phải là khu nhà khi có tiệc để nấu xôi, thịt lợn, thịt gà… cổng chính có bốn cột trụ khá đẹp. Đỉnh trụ có hình bốn con chim phượng chầu, thân cột quay ra đường có đôi câu đối, phía trong cũng có một đôi. Mặt tường sát kề cột trụ phụ có đắp hình đôi vôi, bên tả một con, bên hữu một con. Hai cửa lách hình tò vò. Quan viên và các cụ ông ra làm lễ đều chỉ được đi qua cửa này… Qua đường làng phía trước cổng đình là sang xóm Đoài, bên phải là xóm Đông. Phía trước là một con đầm lớn, tiêu nước từ đồng bãi xóm Đoài đổ xuống. Đầm làng giao khoán cho các hộ trong làng. Họ có thể thả cá hoặc trồng sen. Bọn trẻ chúng tôi khi mưa xuống thường vác cần đi câu. Về mùa sen, nhân đêm trăng lội xuống đầm ngắt hoa hoặc đài sen về chơi, cũng có khi bẻ đài lấy những hạt sen ngồi nhấm nháp…
Buổi chiều, chúng tôi đánh trâu khỏi chuồng, cho trâu đằm ở cái ao lớn, vốn xưa là giếng nước ăn của làng. Phía trên bờ có một cái quán nên gọi là Quán Giếng.
Khi trâu đằm, chúng tôi thả câu, câu được những con đòng đong, mài mại, đôi khi là chú rô ron, hoặc con trạch. Bực nhất là bị lũ tôm càng cắp đứt cả mồi giun. Những con cua màu tím to kềnh càng bị cần câu nhấc lên rồi thả cho bò trên bãi cỏ mà vồ. Cá được xâu vào một dây lạt khoanh tròn phía dưới cho khỏi tuột. Mùa duối chín quả vàng, chúng tôi hái đầy túi áo ăn dần.
Quanh làng tôi là ba vòng lũy, cứ sau một vòng là đai hồ ao. Theo các cụ cao niên trong làng, lũy dầy, ao sâu là để chống cướp. Xưa cướp hay xông vào làng, cầm dao kiếm đến cướp của các nhà giàu.
Bốn xóm trong làng đều có bốn cổng. Ba cổng xây gạch, cánh cửa thấp to và dầy. Đêm đến người ta chẹn cổng bằng một cây xoan dài và to. Sớm mai sẽ có người mở cổng để dân làng ra đồng làm việc.
Gần với cổng làng, có bốn điếm canh, mỗi xóm cử những trai tráng khỏe mạnh mang theo tay thước ra canh gác.
Cổng đẹp và lớn hơn cả là cổng đông, hướng chính dẫn ra đường cái quan. Cổng toàn làm bằng gỗ, tám mái. Người gác có thể đứng trên lầu quan sát giặc.
Làng tôi nổi tiếng gan dạ, nhiều toán cướp từng bị dân làng canh giữ đánh đuổi, nhiều đêm ngày mà không vào nổi.
Nói về chùa, làng tôi tô đủ tượng phật từ các vị Di lặc (Bụt ốc, vì tóc họ quăn xoắn lại như đám ốc) đến Phật Như Lai, Phật Bà Quan Âm, Quan Âm Thị Kính, Ngọc Hoàng với bộ sậu Nam Tào Bắc Đẩu, Phật Tuyết Sơn gầy đếm được cả hai bộ xương sườn…
Sang thời cải cách ruộng đất, các công trình thời phong kiến đều bị phá cả. Bốn chiếc cổng làng, bốn chiếc điếm đều bị phá, may đến hồi sửa sai chặn lại được, nên đình và chùa mới còn.
Sau này, đất chật người đông, dân phá hết ba vòng lũy, lấp tất cả mấy vòng hồ ao để làm nhà. Trong làng cũng vậy, vườn tre, cây ăn quả cũng bị đốn sạch để chia cho các con trai. Nhà tranh chẳng còn vì sợ hỏa hoạn. Làng thi nhau xây nhà gạch, nhà tầng. Cây cổ thụ bị đẵn sạch. Đường lát gạch, ô tô có thể tránh nhau. Nhà nhà đua nhau sắm ô tô, xe máy.
Trong làng cũng có người học hết đại học, có người đỗ thạc sĩ, tiến sĩ. Hầu hết đi làm cán bộ, công nhân.
Ruộng thu hẹp dần. Chợ họp hàng ngày ở đầu làng, chẳng thiếu thứ gì. Nhiều nhà sắm được điều hòa, ti vi, tủ lạnh… Cái làng khá đẹp thời xưa nay đã hóa làng hiện đại. Cây cối cao to không còn, giờ chỉ toàn cây cảnh trồng trong chậu sứ hoặc chậu nhựa.
Âu cũng là chuyện biến thiên của thời cuộc, là chuyện thường ngày vẫn gặp mà thôi.
Ngô Văn Phú
Ý kiến bạn đọc (0)