Đám cưới chuột - Một mô típ, hai diễn giải văn hóa
BẮC NINH - Nhân sự kiện Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp tại kỳ họp diễn ra ở Ấn Độ, nhiều vấn đề về giá trị nghệ thuật và bản sắc của dòng tranh này được đặt ra, nhất là khi so sánh với những mô típ tương đồng trong khu vực. Chúng tôi có cuộc trò chuyện với họa sĩ Vũ Trung Thành, hội viên Chi hội Mỹ thuật - Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bắc Ninh. Dưới đây là ghi chép xung quanh nội dung này.
Theo họa sĩ Vũ Trung Thành, để hiểu đúng Đông Hồ không thể chỉ nhìn vào từng bức tranh riêng lẻ, mà cần đặt chúng trong nền tảng chủ đề, kỹ thuật và khí chất văn hóa của vùng Kinh Bắc. Ông cho biết, tranh Đông Hồ có hệ chủ đề phong phú, phản ánh đời sống nông nghiệp Bắc Bộ. “Các chủ đề ấy tạo thành nền văn hóa giúp người xem hiểu được hơi thở thật của Đông Hồ”, ông Thành nhận xét.
![]() |
|
Tranh dân gian Đông Hồ "Đám cưới chuột". |
Về kỹ thuật, ông giải thích: Tranh Đông Hồ được in trên giấy dó làm từ vỏ cây dó rừng, sau đó phủ một lớp điệp từ vỏ sò nghiền, tạo bề mặt óng nhẹ và giữ màu tự nhiên. Màu sắc hoàn toàn từ thực vật và khoáng chất như hoa hòe, son đất, chàm, gỉ đồng. Mỗi màu tương ứng một bản khắc riêng, tạo nên kỹ thuật in mộc bản nhiều màu hiếm gặp.
Trong khung nền ấy, “Đám cưới chuột” trở thành một bức tranh kể chuyện sinh động. Đoàn chuột đi thành hàng, chia vai rõ rệt: Kèn trống, khiêng lễ, chú rể. Điểm then chốt nằm ở chi tiết chuột phải mang lễ cho mèo để được “thông đường”. Mèo ngồi ở vị trí chếch, thái độ thản nhiên, khiến toàn cảnh vừa hài hước vừa gợi suy ngẫm. Theo họa sĩ Vũ Trung Thành, đó là tiếng cười tự trào của người dân về thói cửa quyền. “Chuyện không lớn, nhưng nói được điều lớn”, ông đánh giá.
Khi so sánh với mô típ tương tự trong tranh dân gian Trung Quốc - thường được gọi là “Thử bái miêu đồ” - ông Thành cho biết sự khác biệt bắt đầu từ bố cục. Tranh Trung Quốc thường sử dụng đăng đối, phân tầng theo trật tự; mèo ở trung tâm, chuột xếp hàng theo nghi lễ triều bái. Tính kể chuyện không phải trọng tâm; thay vào đó là tính biểu tượng về địa vị và lễ nghi. “Nếu Đông Hồ kể bằng tiếng cười thì “Thử bái miêu đồ” kể bằng quy phạm”, ông nói.
Về chất liệu, tranh niên họa Trung Quốc chủ yếu in bản đơn sắc trên giấy xuyến chỉ rồi tô màu. Tông màu đậm, giàu tính trang trí, thiếu độ óng của điệp và độ mềm của giấy dó. Vì thế, theo ông Thành, cùng là mô típ chuột - mèo nhưng một bên mang hơi thở đời sống, một bên mang sắc thái lễ thức.
Từ góc độ di sản quốc tế, theo dữ liệu công khai của UNESCO tính đến tháng 12/2025, chưa có dòng tranh dân gian nào của Trung Quốc được ghi danh trong các danh mục di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO. Trong khi nhiều loại hình nghệ thuật của Trung Quốc đã được ghi nhận, các dòng tranh niên họa chỉ mới nằm trong hệ thống bảo tồn quốc gia, chưa được xác lập ở cấp độ quốc tế. Vì vậy, việc Đông Hồ được UNESCO vinh danh càng cho thấy tính độc đáo và giá trị riêng biệt của dòng tranh này trong bức tranh mỹ thuật dân gian khu vực.
Về khả năng ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai dòng tranh, họa sĩ cho rằng không có bằng chứng trực tiếp chứng minh sự vay mượn. “Có thể mô típ chuột - mèo là một quan sát chung của nhiều nền văn hóa Á Đông. Nhưng cách biểu đạt thì mỗi nơi một khác. Đông Hồ chọn cách nói từ phía dân gian, còn tranh Trung Quốc chọn cách nói từ phía trật tự”, ông phân tích.
Cuối cuộc trò chuyện, họa sĩ Vũ Trung Thành nhấn mạnh rằng sự kiện UNESCO ghi danh là sự khẳng định cho cả kỹ thuật in mộc bản nhiều màu lẫn tinh thần mỹ học Việt Nam. Theo ông, “Đám cưới chuột” không chỉ thành công vì bố cục hay kỹ thuật, mà vì mang được nếp nghĩ của người Việt: Phê phán mà không nặng nề, hài hước mà không cay độc. “Giữ được tranh Đông Hồ là giữ được một phần khí chất Việt”, ông nói.
Bắc Ninh

















Ý kiến bạn đọc (0)